|
|
Luật Mô-sê nói về “án
tru hiến” trong Sách Đệ-nhị
luật (7,1-5; 20,16-18). Nhưng trước khi bàn về khoản luật đặc biệt này,
chúng ta cần có cái nh́n tổng quát về hoàn cảnh lịch sử của dân Ít-ra-en
thời xưa.
1. Chức năng và giới hạn của Luật Mô-sê
Chúng ta cần biết rằng mặc khải của Thiên Chúa được thực hiệntrong
những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Dân Ít-ra-en đă phải sống giữa những
dân tộc ngoại giáo chung quanh với những nền văn hóa chưa tinh tế như ngày
nay. Tất nhiên dân Ít-ra-en cũng đă phải chịu ảnh hưởng của những nền văn
hóa ấy. V́ thế trong luật ông Mô-sê vẫn c̣n tồn tại những điều khoản lạ lùng
gây phản cảm cho con người thời nay, ví dụ như những hành vi gian dối, những
hành động vô luân, thậm chí những việc tiêu diệt kẻ thù hàng loạt.
Trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể đó, Thiên Chúa huấn
luyện Dân Người dần dần, dẫn đưa họ từ t́nh trạng nô lệ (không chỉ trên
b́nh diện xă hội, mà quan trọng hơn nữa là trên b́nh diện tâm linh: nô lệ
đối với tội lỗi dưới mọi h́nh thức !) đến t́nh trạng con người tự do, con
người như ḷng Thiên Chúa mong ước. Luật Mô-sê được ban bố nhằm giáo dục con
người một cách tiệm tiến : v́ thế theo kế hoạch của Thiên Chúa, luật ấy chỉ
có giá trị tạm
thời. Đức Giê-su đă giải thích cho những người Pha-ri-sêu v́ sao ông
Mô-sê cho phép người ta ly dị : “V́ các ông ḷng chai dạ đá, nên ông Mô-sê
đă cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không có thế đâu’ (Mt 19,8). “Thuở
ban đầu”, tức là ư định nguyên thủy của Thiên Chúa như được nói trong
sách Sáng thế. Luật Mô-sê có mục đích dẫn dắt những người « ḷng chai dạ đá
» dần dần đến với Đức Ki-tô là A-đam mới của nhân loại. Chính Đức Ki-tô kiện
toàn Luật Mô-sê bang lời
dạy và gương
sống của Người.
Trở về với luật ông Mô-sê: tuy bộ luật này c̣n hàm chứa nhiều điều bất toàn,
nhưng so sánh với các tập tục và cơ cấu xă hội của những dân tộc ngoại giáo
đương thời chung quanh, th́ nó đă biểu lộ một sự tiến bộ lớn lao rồi. Ví dụ:
luật “mắt đền mắt, răng đền răng” (Xh 21,23-25) của ông Mô-sê nhắm hạn chế
sự báo thù: khi báo oán như thế phải có trọng tài chứng giám và không được
gây thiệt hại cho người ta quá mức thiệt hại họ đă gây ra cho ḿnh. Cũng vậy
luật Mô-sê hạn chế h́nh phạt đối với các nô lệ, trong lúc nơi các dân tộc
khác, ông chủ có toàn quyền trên lớp người đáng thương này. Như vậy so với
các bản luật của các dân tộc thời ấy, th́ luật ông Mô-sê nhân đạo hơn nhiều.
Sau hết chúng ta cần lưu ư một điểm quan trọng khác. Người tín hữu Do-thái
trước thế kỷ 2 tCN chưa được mặc khải về đời sống mai sau: họ nghĩ rằng khi
chết rồi, người lành và kẻ dữ đều xuống âm phủ cả. C̣n Thiên Chúa là Đấng
giàu t́nh thương, nhưng cũng là Đấng rất công bằng. Vậy th́ chính ngay trong
cuộc sống trên trần gian này, sự công bằng của Thiên Chúa được thể hiện.
Thiên Chúa “xét
xử” thế giới (từ ngữ Do Thái có nghĩa là cai
quản và thống
trị) một cách công minh bằng việc giữ ǵn người ngay lành và
tiêu diệt ác nhân. Sự dữ được h́nh dung một cách cụ thể nơi những con ngừơi,
những quốc gia, những thể chế. Từ đó người ta thường tŕnh bày Thiên Chúa
như một chiến binh đánh
bật gốc sự dữ và cứu
thoát Israel bằng
việc đánh
bại các kẻ thù của nó. Nhưng Thiên Chúa cũng không bao dung
Ít-ra-en một cách mù quáng: Người sẽ trừng phạt Ít-ra-en, khi nó phạm tội.
Tuy nhiên bức chân dung về vị Chiến Binh thiên giới này bớt phần khắc nghiệt
qua các sự kiện sau đây:
- Thứ nhất,
chiến tranh không phải là hoạt động chính, mà chỉ để chỉ cho thấy Thiên Chúa
“xét
xử” (nghĩa là cai
quản) một cách công minh;
- Thứ hai,
khi các tín hữu Do-thái, trong các Thánh vịnh, đ̣i “trả thù”, họ xin Thiên
Chúa uốn nắn lại những bất công trong thế giới và họ hoàn toàn phó thác cho
Thiên Chúa việc thực hiện;
- Thứ ba,
Cựu Ước mặc khải một Thiên Chúa vừa nhân từ vừa công chính. Khi hai ư niệm
ấy xem ra xung đột nhau, th́ thường ḷng nhân từ và thương xót chiến thắng.
Các ngôn sứ đă ghi lại lời chứng của chính Thiên Chúa:
“Ta sẽ không hành động theo cơn nóng giận, sẽ không tiêu diệt Ép-ra-im nữa,
v́ Ta là Thiên Chúa, chứ không phải người phàm. Ở giữa ngươi, Ta là Đấng
Thánh, và Ta sẽ không đến trong cơn thịnh nộ” (Hs
11,9).
hoặc:
“Chẳng lẽ Ta lại vui thích v́ kẻ gian ác phải chết - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA
là Chúa Thượng - Ta lại không muốn cho nó từ bỏ đường lối của nó mà được
sống sao?” (Ed.18,23).
Bây giờ chúng ta có thể đề cập tới vấn đề “tru hiến” như được nêu trong câu
hỏi.
2. Biệt hiến
Từ Do-thái “herem”
mang các nghĩa cơ bản sau đây:
- một lời khấn qua đó người ta cung hiến một cách dứt khoát (nghĩa là không
thể chuộc lại) điều ǵ đó (người, súc vật hay của cải) cho Thiên Chúa. Trong
trường hợp thánh chiến, người ta cung hiến tất cả chiến lợi phẩm (người cũng
như của cải) cho Thiên Chúa: điều này đưa tới “án tru hiến”, tức là tiêu
diệt tất cả nơi phe bại trận;
- h́nh phạt trục xuất khỏi cộng đoàn trong một số trường hợp: h́nh phạt nặng
nhất có thể đưa tới án tử h́nh.
Về việc thi hành “án tru hiến” đối với các thành bại trận, chúng ta cần phân
biệt hai thời điểm : thời điểm các sự kiện xảy ra (thế kỷ XIII tCN) và thời
điểm các bản văn được soạn thảo (thế kỷ VI).
Các dữ kiện lịch sử về
việc thi hành án tru hiến rất ít: sách Dân số (21,1-3) và Thủ lănh (1,13)
nói tới việc hai anh em Si-mê-on và Giu-đa thi hành án tru hiến khi chiếm
thành Khooc-ma thuộc xứ Ca-na-an. Sách Giô-su-ê (chương 6) kể việc dân
Ít-ra-en chiếm thành Giê-ri-khô, rồi “phóng hỏa đốt thành cũng như tất cả
những ǵ trong đó”, trừ gia đ́nh cô Ra-kháp là người đă trợ giúp những người
Ít-ra-en do-thám trước đó.
C̣n Sách Sa-mu-en (1Sm 15) kể lại việc vua Sa-un (thế kỷ XI) đă không thi
hành đầy đủ án tru hiến đối với dân A-ma-lếch. Sau vua Sa-un th́ người ta
không c̣n thấy việc thi hành án tru hiến nữa, trừ 1V 20,42 theo đó th́ một
vị ngôn sứ vô danh nào đó đ̣i phải thi hành án này. Đàng khác án tru hiến
chỉ được thi hành trong xứ Ca-na-an mà thôi, chứ không phải đối với những
thành ở xa (Đnl 20,15-18); lư do là “chúng (dân Ca-na-an) sẽ không dạy anh
em học đ̣i mọi điều ghê tởm chúng làm để kính các thần của chúng, khiến anh
em phạm tội nghịch cùng ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em”.
Như đă nói ở trên việc Ít-ra-en tiêu diệt người, súc vật và của cải của đối
phương nằm
trong khung cảnh các nền văn hóa thời xưa, mặc dầu sự việc xảy
ra rất
ít tại Ít-ra-en. Ở Ca-na-an dân ngoại c̣n hỏa thiêu các hài nhi
để làm của lễ dâng cho các vị thần; tại Át-xua người ta lột da sống các tù
nhân…
Các bản văn trong
Luật Mô-sê nói về việc thi hành án tru hiến, được soạn thảo vào thế kỷ VI,
trong Sách Đệ-nhị-luật (Đnl 7,1-5; 20,16-18). Cần lưu ư là tác giả sách này
cũng là một trong những tác giả đă biên soạn quyển Giô-su-ê. Đứng sau các
biến cố những 7 thế kỷ, tác giả muốn tŕnh bày ông Giô-su-ê như một vị anh
hùng dân tộc, nên đă cường điệu một số sự việc để đề cao các chiến công của
ông. Đàng khác tác giả nhấn mạnh tới việc ông Giô-su-ê thi hành cách trung
tín mệnh lệnh của Thiên Chúa để ǵn giữ cho Dân khỏi bị lây nhiễm với lối
sống của dân Ca-na-an. Thánh chiến với án tru hiến trong sách Giô-su-ê và
sách Đệ-nhị-luật là một chủ
đề tôn giáo nhằm đề
cao sự tinh ṛng của niềm tin vào Thiên Chúa, sự trung tín với giao ước; nó
biểu lộ một sự đọc lại, mộtsuy
tư hậu thời về các
biến cố quá khứ, và như vậy nó có tính cách lư thuyết hơn là thực tế lịch
sử. Nói cách khác, sau nhiều thế kỷ sống chung đụng với các dân ngoại, dân
Ít-ra-en đă nhiều lần sa ngă vào tội thờ tà thần của họ, bắt chước lối sống
vô luân của họ;v́ thế tác giả sách Giô-su-ê và sách Đệ-nhị-luật muốn đề cao
lối sống nghiêm nhặt của cha ông (tuyệt đối không chấp nhận ảnh hưởng của
các dân ngoại) như một lư tưởng tôn giáo cho các thế hệ về sau.
Noberto Nguyễn Văn Khanh, Ofm